Monday, 14 September 2026

Đào tạo tri thức trong bối cảnh hiện nay


I. BỐI CẢNH ĐÀO TẠO

Mỗi thời đại đều có những dấu chỉ mà chúng ta phải biết đọc để hiểu và để sống. Đọc dấu chỉ thời đại cũng giống như đọc dấu chỉ thời tiết, nghĩa là chúng ta nhìn hiện tượng để đoán nguyên nhân và hậu quả dưới ánh sáng đức tin như Công đồng Vaticanô II mời gọi (x. GS số 4). Vậy thời đại chúng ta xuất hiện những dấu chỉ lớn nào? Theo Công đồngVaticanô II, đây là những dấu chỉ lớn thời đại:

1)             Tình liên đới giữa các dân tộc (x.  Hiến chế GS số 26): ngày nay, hơn bao giờ hết, con người xích lại gần nhau hơn trong tình liên đới với nhau. 

2)             Đại kết (x. Sắc lệnh Unitatis Redintegratio): Thế giới đã thay đổi, Giáo hội cũng đã thay đổi: các tôn giáo không còn nhìn nhau với ánh mắt chia r và thù địch nhau như xưa, nhưng có thể ngồi lại với nhau trong sự trân trọng, đối thoại và học hỏi lẫn nhau. 

3)             Mối quan tâm về tự do tôn giáo (x. Tuyên ngôn Dignitatis Humanae): Đây là cảm thức mạnh mẽ của con người hôm nay mà các tổ chức và thể chế phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo.

4)             Sự cần thiết của nhiều hình thức tông đồ giáo dân (x. Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem): Mô hình Giáo hội đã thay đổi, không còn theo mô hình kim tự tháp của thời Trung Cổ nữa, nhưng là mô hình hình tròn hiệp thông, trong đó giáo dân chiếm đa số và dưới nhiều hình thức để truyền giáo cho con người hôm nay, họ mới có thể sống len lỏi giữa đời để làm chứng cho Chúa. Đặc biệt vai trò phụ nữ được chú trọng và đề cao. Tất những điều này được Thượng hội đồng Giám mục thế giới XVI về hiệp hành thực hiện và triển khai cách mạnh mẽ.[1]

Sau hơn 50 năm hậu Công Đồng, xuất hiện thêm những dấu chỉ mới thời đại, đó là:

5)             Hiện tượng tục hóa, giải thiêng: Bên cạnh những ánh sáng, hiện tượng tục hóa và giải thiêng là dấu chỉ khác của thời đại, đây cũng là mảng tối của bức tranh. Con người chạy theo vật chất, hưởng thụ, tiêu thụ, cá nhân chủ nghĩa, và xa rời niềm tin tôn giáo, họ không còn đến nhà thờ, giữ đạo và cảm thấy đủ với thế giới của mình. Nó nhưng cơn bão càn quét khắp nơi và len lỏi mọi hang cùng ngõ hẻm của đời sống con người. Dù muốn dù không, sống trong bầu khí ấy, tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi hiện tượng này.

6)             Dấu chỉ tiếp theo là “thế giới trở nên phẳng – the world is flat”: thế giới này trước đây được quan niệm là “trời tròn, đất vuông,” sau đó, với khám phá của Columbus, cái nhìn đã thay đổi: trái đất thì tròn, còn trời thì bao la. Ngay nay, theo ngôn ngữ của Friedman (the world is flat), thế giới này đã và đang trở nên phẳng nhờ mạng internet.[2]Thế giới trở nên phẳng khi mọi ngăn cách về địa lý, thời gian, quốc gia, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ... bị vượt qua hay gỡ bỏ. Thế giới phẳng nên mỗi người có cơ hội như nhau để trở thành công dân toàn cầu (world citizen)Toàn cầu hoá làm thay đổi mọi thứ. Vì thế, ngày nay tiêu chí đánh giá mọi thứ, kể cả về đào tạo nhân sự cũng thay đổi, không còn chỉ theo vùng miền, khu vực, “duy truyền thống” mà phải là mang tính toàn cầu, quốc tế. Lối tư duy, tầm nhìn, hệ thống tổ chức, tiêu chí đào tạo nhân sự cũng phải theo tầm nhìn ấy, nếu muốn hội nhập và không bị lạc hậu. 

7)             Thứ đến là thời đại AI: Sự phát triển vượt bậc của công nghệ 4.0 và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) đã thay đổi cục diện cuộc sống con ngườiMột cách tích cực, đây là thành quả to lớn của khoa học kỹ thuật mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong thời đại này mà các thế hệ trước không thể tưởng tượng. Chúng ta thừa hưởng những sản phẩm của công nghệ 4.0 như điện thoại thông minh, máy tính, mạng internet, robot, mass media, truyền hình v.v... Đây là “lục địa mới” cần được truyền giáo và dùng chúng để tin mừng hóa thế giới và con người hôm nay. Thật vậy, AI mang lại cho con người bao điều kỳ diện, nhưng nó cũng đặt ra bao thách đố mới cho cuộc sống.

II. NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA AI TRONG VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC

Sau đây là những thách đố của AI trong việc đào tạo linh mục:

1)             Thách đố về tư duy – con người dễ lệ thuộc vào AI để có câu trả lời nhanh, thay vì tự đọc, suy nghĩ và lập luận. AI có thể làm cho chúng ta mất dần khả năng tư duy.

2)             Thách đố về chiều sâu tri thức – AI cho nhiều thông tin nhưng không phải lúc nào cũng bảo đảm chiều sâu triết học, thần học. 

3)             Thách đố về tính chính xác – AI có nguy cơ thông tin sai hoặc trích dẫn sai, nên cần kiểm chứng. 

4)             Thách đố về phương pháp nghiên cứu – nguy cơ sao chép hoặc để AI viết thay, làm bài thay làm yếu khả năng nghiên cứu độc lập mất dần

5)             Thách đố đạo đức học thuật – AI không có lương tâm, nên cần phân định rõ giữa hỗ trợ hợp pháp và gian lận học tập, nghiên cứu. Việc sử dụng AI phải gắn liền với lương tâm ngay thẳng và sự lương thiện trong tri thức. Không đạo văn và lạm dụng AI khi lương tâm cho biết là vi phạm đạo đức học thuật. 

6)             Thách đố về đào tạo con người toàn diện – AI không thể thay thế việc đào tạo nhân bản, thiêng liêng, mục vụ. 

7)             Thách đố về khả năng phân định – cần học cách dùng AI đúng chỗ, không để nó nghĩ thay mình. Bởi thế, Đức Giáo hoàng Lêô XIV khuyên linh mục không soạn bài giảng bằng AI.

TÓM LẠI: Nguyên tắc chung là AI phải là công cụ phục vụ việc học và nghiên cứu, chứ không trở thành người thay thế chủng sinh trong việc tìm kiếm chân lý và trưởng thành con người.

Trước đây, nhiều Chủng viện và Học viện trên thế giới khuyến khích việc làm bài viết cá nhân, nhưng trước thách đố của AI có thể làm bài thay cho sinh viên, nên họ đã chuyển hướng sang việc làm bài trực tiếp tại lớp, ưu tiên thi oral nhiều hơn, thay vì trước đó ưu tiên làm bài viết ở nhà. Những ngày du học ở Rôma, chúng tôi làm bài thi phần lớn bằng cách thi oral. Chủng viện chúng ta cũng có sự chuyển hướng này và yêu cầu các chủng sinh cần thích nghi trong việc học và thi của mình. 

Tuy nhiên, trước những thách đố của AI, không phải những hình thức truyền thống để bị thay thế. Trong đó, Ban Đào tạo vẫn tiếp tục giữ hình thức viết tiểu luận để kết thúc giai đoạn triết học và luận văn ra trường. Nhưng các chủng sinh được nhắc nhở rằng công việc nghiên cứu này phải được thực hiện với lương tâm và trách nhiệm, không được nhờ AI viết thay. 

III. NHỮNG LỜI MỜI GỌI THỰC HÀNH

Chúng ta được mời gọi sử dụng AI như phương tiện trợ giúp cho việc nghiên cứu. Không quá vồ vập cũng không nên chạy trốn AI. Người khôn ngoan là người biết sử dụng cái mới và cái cũ trong kho tàng của mình để sống và thi hành sứ vụ. Trong chiều hướng đó, chúng ta vẫn được mời gọi thực hành những việc cụ thể như sau:

1)            Tolle et Lege!  

Câu nói “Tolle et lege” (tiếng Latinh, nghĩa là “Hãy cầm lấy và đọc”) bắt nguồn từ cuốn tự truyện Confessiones (Tự thú) của Thánh Augustinô.

Theo ghi chép trong tác phẩm này, khi đang ngồi khóc lóc và suy tư trong vườn nhà tại Milan với tâm hồn dằn vặt, ngài bỗng nghe văng vẳng tiếng hát hoặc tiếng nói của một đứa trẻ (như từ nhà bên cạnh) lặp đi lặp lại câu: “Tolle, lege! Tolle, lege!”. Ngài hiểu đó là mệnh lệnh từ Thiên Chúa, liền mở cuốn thư của Thánh Phaolô ra đọc và có một bước ngoặt lớn, từ bỏ đời sống cũ để trở thành một vị thánh vĩ đại. 

Ngày nay, cụm từ này được dùng phổ biến như một lời cổ động văn hóa đọc sách và trân trọng tri thức. Dẫu có AI hay ebook, nhưng chúng ta vẫn cần phải duy trì việc đọc sách giấy. Nó có giá trị và thú vị của nó. Không chỉ lướt qua nhưng hãy tập khả năng deeper reading (đọc sâu hơn), đọc kỹ hơn. Vì kiến thức hay hiểu biết của chúng ta phải đi qua một tiến trình tiếp nhận, cảm nhận, thẩm thấu, rồi mới trở nên máu thịt của mình. Đọc sách mang lại niềm vui. Đọc sách thay đổi tầm nhìn và cả cuộc sống mình. 

Nên chúng ta cần tập thói quen đọc sách: không dừng lại kiến thức ở lớp, ở giáo trình, mà ưu tiên đọc sách để mở rộng kiến thức. Triết gia Đức Shopenhauer nói đến 6 quy luật đọc sách: Không đọc quá nhiều sách mà không suy nghĩ; Hãy suy nghĩ những gì mình đọc; Hãy đọc những tác phẩm đáng đọc, đọc nhiều lần, đọc lại. Đừng đọc sách không hay; Hãy đọc chính tác phẩm và chính tác giả, tức là với nguồn gốc, không dừng ở những gì người ta nói về tác phẩm, tác giả; Không đọc sách xấu, vì nó huỷ hoại tâm hồn, vì cuộc đời quá ngắn ngủi. 

Thế nến, mỗi người lập kế hoạch cho việc đọc sách trong quá trình đào tạo, theo đó, mỗi năm, mỗi kỳ học, nên có kế hoạch chọn đọc những loại sách nào phù hợp với bản thân. 

2)             Fides quaerens intellectum: Đó là câu nói nổi tiếng của thánh Anselmô: Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết: sự hiểu biết về Thiên Chúa, về con người và về thế giới. 

Trong bối cảnh thế giới hôm nay, chúng ta cần nhắc lại một số đòi hỏi của Hội thánh về đào tạo tri thức của các linh mục tương lai. Ratio 2016 quả quyết: “Mục đích khi đào tri thức là làm cho chủng sinh đạt được khả năng vững chắc về triết học và thần học, có trình độ văn hóa tổng quát, để họ loan báo sứ điệp Tin mừng cho người đương thời cách đáng tin cậy và dễ hiểu…” (Ratio 116).

Việc nghiên cứu triết học và thần học cách chuyên sâu và có hệ thống. Vì thế, cần phải chăm lo để có được một sự đào tạo tri thức vững chắc, đúng đắn, và có trình độ cao (x. Ratio 116.118). Giáo luật khoản 1029 quy định: “Giám mục chỉ tiến chức cho những người có… kiến thức đầy đủ.”

Trong bối cảnh Á Châu và Việt Nam, Hội thánh mời gọi chúng ta học để biết đối thoại với các tôn giáo, đối thoại với các nền văn hóa, và đối thoại với người nghèo theo tinh thần hiệp hành. 

3) Evangelizate spartium digitale: Câu này được viết ở dưới ảnh vị thánh trẻ Carlo Acutis, quan thầy của mạng internet, được đặt trong phòng vi tính của Chủng viện: “Anh em hãy truyền giáo không gian mạng.” Trong thời đại kỹ thuật số, không gian mạng đã trở thành một “mảnh đất truyền giáo” mới, nơi con người gặp gỡ, chia sẻ, tìm kiếm sự thật và cả những câu trả lời cho những thao thức sâu xa của cuộc sống. Vì thế, truyền giáo hôm nay không chỉ diễn ra trong nhà thờ, nơi lớp học hay ngoài xã hội, mà còn hiện diện trên Facebook, YouTube, TikTok, các trang web và nhiều nền tảng kỹ thuật số khác. Người môn đệ Đức Kitô được mời gọi bước vào không gian ấy không phải để chạy theo sự nổi tiếng, nhưng để mang ánh sáng Tin mừng đến nơi con người đang hiện diện.

Truyền giáo trên không gian mạng trước hết là làm chứng bằng chính nội dung và cách chúng ta hiện diện: một lời nói chân thành, một hình ảnh đẹp, một bài chia sẻ có chiều sâu, một lời an ủi đúng lúc hay một thông tin được trình bày với sự thật và bác ái đều có thể trở thành nhịp cầu đưa con người đến gần Thiên Chúa. Tuy nhiên, người truyền giáo cũng phải tỉnh thức trước những cám dỗ của thế giới số: tìm kiếm lượt thích, chạy theo xu hướng, tranh luận thiếu bác ái, hoặc biến Tin mừng thành một thứ “nội dung” để thu hút người xem.

Vì thế, truyền giáo không gian mạng không chỉ là sử dụng công nghệ để nói về Chúa, nhưng là đem tinh thần của Chúa vào cách chúng ta sử dụng công nghệNgười truyền giáo cần có một trái tim say mê Đức Kitô, một tâm trí biết phân định và một đời sống thật sự làm chứng cho điều mình loan báo. Khi đó, không gian mạng không còn chỉ là nơi để kết nối con người với nhau, mà có thể trở thành một không gian để kết nối con người với sự thật, với tình yêu và với Thiên Chúa.

IV. MỘT CHÚ GIẢI KHÁC VỀ Ý LỰC SỐNG NĂM NAY: Như Thầy đã yêu” (Ga 13,34).

Ý lực sống năm nay được chọn câu “Như Thầy đã yêu” bắt nguồn từ lời Đức Giêsu trong Tin mừng Gioan: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Chúng ta đã được giải thích ý nghĩa của nó theo 3 chiều kích:

Kinh Thánh: “Như Thầy đã yêu” không chỉ là yêu người khác theo tình cảm tự nhiên, nhưng là yêu theo cách Đức Kitô đã yêu: yêu cách nhưng không, tha thứ, phục vụ và hiến mình cho người khác (x. Ga 13,1; 15,13).

Thần học: Đức Kitô vừa là nguồn mạch vừa là khuôn mẫu của tình yêu Kitô giáo. Người Kitô hữu không tự mình tạo ra tình yêu ấy, nhưng đón nhận tình yêu của Chúa rồi trao ban cho tha nhân. Tình yêu trở thành dấu chỉ căn bản của người môn đệ (x. Ga 13,35).

Đời sống: “Như Thầy đã yêu” nghĩa là để tình yêu của Đức Kitô trở thành tiêu chuẩn cho cách tôi sống, phục vụ và đối xử với mọi người, nhất là khi gặp người khó yêu, người làm tổn thương mình hay người đang cần được nâng đỡ.

Trong ngày khai giảng năm học mới, tôi xin cống hiến một giải thích khác về câu chủ đề sống này trong bối cảnh đào tạo linh mục của Chủng viện hiện nay: 

Ngày nay, người ta hiểu sai chữ tình yêu, người ta đồng hoá tình yêu (love) là đồng cảm hay thấu cảm (empathy) với người khác. Gần đây, trong một nghiên cứu, Đức Giám mục Robert Barron chỉ ra rằng trong triết học và văn hóa hiện đại, người ta đồng hoá tình yêu là "đồng cảm", có nghĩa: yêu là cảm nhận cảm xúc của người khác, đồng cảm với họ và tránh làm tổn thương cảm xúc đó. Người ta thường đề cao sự đồng cảm như giá trị tối thượng.[3] 

Tuy nhiên, theo Kinh thánh, tình yêu vượt trên sự đồng cảm. Tân ước định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 1,16), chứ không nói: “Thiên Chúa là đồng cảm.” Tình yêu (agape) mới là giá trị tối cao chứ không phải chỉ là sự đồng cảm thuần túy. Tình yêu không có nghĩa là đi theo cảm xúc hay sợ làm mất lòng người khác, mà đúng ra, nói như thánh Tôma, “Amare est velle alicui bonum” – Yêu là muốn điều tốt lành cho người khác.”[4] Câu này được diễn đạt rộng hơn hơn: “Yêu là muốn điều tốt lành đích thực cho tha nhân." Nếu thêm chữ “đích thực”, thì về mặt thần học rất có ý nghĩa, vì tình yêu Kitô giáo không phải muốn bất cứ điều gì người khác thích, nhưng muốn điều thiện đích thực của họ, và tối hậu là hướng họ về Thiên Chúa và sự sống đời đời.

Theo đó, yêu không có nghĩa là luôn chiều theo ý người khác, làm cho họ vui hoặc tránh làm họ phật ý. Đôi khi, chính vì yêu mà phải nói sự thật, sửa lỗi, khuyên can hoặc giúp người khác từ bỏ điều đang làm tổn hại họ. Yêu không phải là muốn người khác làm điều tôi muốn, cũng không chỉ là làm cho họ cảm thấy dễ chịu; yêu là muốn và tìm kiếm điều thiện đích thực của họ, vì chính họ.

Theo ý nghĩa này, khi áp dụng vào việc giáo dục con người và nhất là trong việc đào tạo linh mục, việc đồng cảm là cần có và cần thiết, nhưng để giáo dục con người, còn phải đi xa hơn đồng cảm, vì nhiều khi, mong điều tốt cho người khác đòi hỏi những hành động kiên quyết, thẳng thắn hoặc hy sinh gian khổ như triết gia Dostoevsky từng gọi nói “Tình yêu hoạt động, so với tình yêu trong mơ, là một điều khắc nghiệt và đáng sợ.”[5]

Vì thế, khi các bậc cha mẹ yêu con cái, nhà đào tạo yêu học trò, là muốn điều tốt lành cho họ, chứ không chỉ đồng cảm với họ, không dám làm tổn thương đến cảm xúc của họ. Trái lại, vì yêu thương, nên phải chấp nhận làm tổn thương, đau đớn,  đối diện với sự thật, mổ xẻ vấn đề và cắt tỉa những thói hư tật xấu, để lớn lên và trưởng thành. Nếu giáo dục mà chỉ cưng chiều cảm xúc, thì sẽ không có trưởng thành khôn lớn. Đó là lý do mà Lời Chúa Chúa Nhật XXIII năm A nói đến bổn phận sửa lỗi cho nhau. Cha mẹ yêu thương nên sửa lỗi cho con cái. Vợ chồng, bạn bè yêu thương nhâu nên sửa lỗi cho nhau. Nhà đạo tạo yêu thương người thụ huấn nên phải nhắc nhở, uốn nắn họ. Thầy giáo chấm bài và cho điểm thấp một học sinh có thể làm họ buồn hay tổn thương. Tất cả những việc làm này có thể gây cảm giác khó chịu và có thể gây tổn thương, nhưng qua đó, giúp họ biết những giới hạn, những thiếu sót và sai lỗi để rèn luyện bản thân trưởng thành hơn, tốt đẹp hơn. Đó là việc làm cần thiết, có ích cho sự lớn lên của họ. Đó là “yêu như Thầy đã yêu.” 

KẾT LUẬN

Như thế, AI có thể giúp chúng ta tìm kiếm nhanh hơn, tiếp cận nhiều tri thức hơn, nhưng AI không thể thay thế con người trong việc suy tư, phân định và trưởng thành trong tình yêu. Vì thế, trước những tiện ích của AI, người học và người đào tạo vẫn cần trở về với việc đọc sách nghiêm túc, nghiên cứu sâu, suy tư cá nhân và đối thoại với sự thật. Tri thức đích thực không chỉ làm cho chúng ta “biết nhiều hơn”, nhưng phải giúp chúng ta trở thành một con người tốt hơn.

Sau cùng, mục tiêu của việc nghiên cứu và đào tạo Kitô giáo không phải chỉ để có thêm kiến thức, nhưng là để biết Đức Kitô và sống như Đức Kitô. “Như Thầy đã yêu” nhắc chúng ta rằng mọi tri thức chỉ thực sự có giá trị khi dẫn đến tình yêu: muốn điều thiện đích thực cho tha nhân và dấn thân thực hiện điều thiện ấy. Nếu AI giúp chúng ta tìm kiếm tri thức nhanh hơn, thì việc đào tạo phải giúp chúng ta sống sâu hơn, yêu thật hơn và phục vụ quảng đại hơn. Đó mới là điều AI không thể làm thay con người.

 

Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, 8/9/2026

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

PGĐ kiêm Giám học ĐCV



[1] Xem tài liệu Công đồng Vaticanô II. 

[2] Thomas Friedman, The World Is Flat: A Brief History of the Twenty-First Century, 2005.

[3] x. Đức Giám mục Robert BarronWill the Good of the Other trên Word on Fire .

[4] Thomas Aquinas, Summa Theologiae, I–II, q. 26, a. 4.

[5]  Fyodor Dostoevsky, The Brothers Karamazov (Братья Карамазовы), Quyển II, Chương 4 – “Một người đàn bà ít đức tin. 

No comments:

Post a Comment